
& Cộng đồng
và thực hành trong bối cảnh Việt NamQUÝ III / 2026 · 10 BÀI VIẾT
ẤN PHẨM ĐIỆN TỬ VC / QUÝ III 2026
Chăm sóc & kết nối
Mười bài chuyên đề kết nối nguồn tham khảo, tình huống và thực hành học nghề.
Đọc trọn số ngay tại đây. Mỗi bài có hình minh họa và tài liệu tham khảo riêng.
Khám phá mục lục ↓Phát hành và biên tập mở rộng ngày 26/09/2026 trong bộ ba số hồi cố. Nhãn quý tổ chức chủ đề, không phải ngày phát hành trước đây. Các tình huống, đối thoại và mẫu thực hành trong số này mang tính minh họa. Tài liệu tham khảo ở cuối từng bài giúp nhận diện nguồn và phạm vi áp dụng.
BÀI 01 / NGÔN NGỮ TRONG PHÒNG THAM VẤN
Lắng nghe những từ chưa có bản dịch vừa vặn
Những từ như “tủi”, “ngại” hay “nặng lòng” cần được hiểu qua câu chuyện cụ thể trước khi gắn với một thuật ngữ chuyên môn.

Một người nói mình “ngại”, người làm tham vấn ghi thành “lo âu”. Bản ghi có thể đúng một phần, nhưng “ngại” cũng có thể bao gồm sợ làm phiền, giữ ý, chưa tin tưởng hoặc không muốn nhận lời. Chuyển quá nhanh sang ngôn ngữ chuyên môn có nguy cơ làm mất chính điều người ấy đang cố diễn đạt.
Giữ từ của người nói thêm một lúc
Khi thân chủ dùng một từ chưa rõ nghĩa, hãy giữ lại cách nói ấy và hỏi họ dùng từ đó trong tình huống nào, điều gì khiến họ chọn từ đó. Cách hỏi này tôn trọng ngôn ngữ của người trong cuộc và để họ sửa cách hiểu của người làm tham vấn; đây cũng là tinh thần chung của phỏng vấn hình thành văn hóa, chuẩn giao tiếp CLAS và thực hành khiêm nhường văn hóa (American Psychiatric Association, 2013; HHS, n.d.; Shaw, 2016).
Ba câu hỏi nối tiếp
“Khi nói ‘tủi’, bạn đang nhớ đến khoảnh khắc nào gần đây?”
“Trong khoảnh khắc đó, điều gì làm bạn thấy khó nhất?”
“Tôi đang hiểu là bạn muốn được nhớ tới mà không phải tự nhắc. Cách hiểu này có gần với bạn không?”
Câu hỏi cuối để người nói xác nhận hoặc sửa cách hiểu của người nghe. Nếu thân chủ nói không đúng, người làm tham vấn cần thay đổi cách hiểu thật sự; chỉ thêm “đúng không?” ở cuối một kết luận chắc chắn chưa tạo ra đối thoại.
Khi hai ngôn ngữ cùng xuất hiện
Một thân chủ có thể kể về công việc bằng tiếng Anh nhưng nói về gia đình bằng tiếng Việt. Người làm tham vấn có thể hỏi họ muốn giữ từ nào ở ngôn ngữ gốc và có cần giải thích thêm không. Việc đổi ngôn ngữ không tự chứng minh né tránh hay khó tiếp cận cảm xúc. Cần xem nó trong tình huống và mục đích của người nói.
Nếu cần phiên dịch, phải làm rõ năng lực, vai trò và cách bảo mật của người tham gia. Nhờ một người thân dịch cho tiện có thể thay đổi điều thân chủ sẵn sàng nói. Các chuẩn CLAS là tài liệu của Hoa Kỳ, được tham khảo về chất lượng giao tiếp; bài viết không coi chúng là quy định pháp lý tại Việt Nam.
Ghi chép mà không đánh mất nghĩa
Trong hồ sơ phù hợp, có thể giữ một từ ngắn do thân chủ dùng và ghi cách hai bên đã làm rõ nó. Ví dụ mô phỏng: “Người đến gặp dùng từ ‘ngại’ để mô tả việc sợ làm đồng nghiệp thêm việc; chưa xác định đây là lo lắng rộng hơn ngoài bối cảnh đó.” Cách ghi này giúp tránh biến một biểu đạt đời thường thành kết luận chẩn đoán.
Ngôn ngữ chính xác không nhất thiết phải hàn lâm. Nó cần giúp người được nghe nhận ra trải nghiệm của mình, đồng thời giúp người làm tham vấn biết điều gì đã hiểu và điều gì còn cần hỏi. Đôi khi giữ nguyên một từ là cách đi sâu hơn, miễn là ta không dừng ở việc cho rằng mọi người đều hiểu từ ấy giống nhau.
Tài liệu tham khảo
American Psychiatric Association. (2013). Cultural formulation interview. https://www.psychiatry.org/File%20Library/Psychiatrists/Practice/DSM/APA_DSM5_Cultural-Formulation-Interview.pdf
U.S. Department of Health and Human Services, Office of Minority Health. (n.d.). National CLAS standards. https://thinkculturalhealth.hhs.gov/clas
Shaw, S. (2016, December). Practicing cultural humility. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2016/12/practicing-cultural-humility/
BÀI 02 / PHÂN TÍCH BỐI CẢNH
Điều kiện sống cũng có chỗ trong câu chuyện tham vấn
Một kế hoạch hỗ trợ chỉ có ích khi người sử dụng có điều kiện thực hiện: thời gian, chỗ ở, thu nhập, phương tiện và sự riêng tư.

Một người làm ca tối thường xuyên không hoàn thành bài tập giữa các buổi gặp. Nếu người làm tham vấn chỉ hỏi về động lực, họ có thể bỏ qua thực tế người ấy dùng chung phòng, không có giờ ngủ ổn định và phải chăm người nhà vào ban ngày. Bài tập hợp lý về mặt lý thuyết vẫn có thể không phù hợp với đời sống thực tế.
Lịch làm việc, chỗ ở, tiền bạc và trách nhiệm chăm sóc có thể quyết định một kế hoạch hỗ trợ có thực hiện được hay không. Khi xem lại bài tập chưa hoàn thành, người làm tham vấn cần hỏi về những điều kiện ấy trước khi quy nguyên nhân cho động lực cá nhân (WHO & Calouste Gulbenkian Foundation, 2014; American Psychiatric Association, 2013; WHO, 2022).
Hai cách lập kế hoạch từ cùng một vấn đề
| Kế hoạch chưa xét bối cảnh | Kế hoạch cần được bàn lại |
|---|---|
| Viết nhật ký mỗi tối trong phòng yên tĩnh. | Người ấy có nơi giữ tài liệu riêng không? Một cách ghi ngắn khác có an toàn và hữu ích hơn không? |
| Duy trì giờ sinh hoạt cố định. | Lịch ca có thay đổi? Phần nào họ kiểm soát được, phần nào cần trao đổi với nơi làm việc? |
| Gặp chuyên gia hằng tuần. | Chi phí và di chuyển có khả thi? Có lựa chọn dịch vụ phù hợp nào khác? |
Cột bên phải là những câu hỏi để hai bên cùng điều chỉnh kế hoạch, không phải lời giải áp dụng cho mọi người. Điều chỉnh cần giữ mục tiêu chuyên môn, nhưng không dùng việc thân chủ khó thực hiện để kết luận họ thiếu cố gắng.
Nhìn bối cảnh mà không làm thay mọi thứ
Người làm tham vấn không thể giải quyết toàn bộ vấn đề nhà ở, việc làm hay thu nhập. Điều có thể làm trong phạm vi vai trò là nhận diện rào cản, trao đổi về ảnh hưởng của nó, tìm nguồn hỗ trợ đáng tin và phối hợp khi phù hợp. Trước khi chuyển gửi, kiểm tra dịch vụ có thực sự hoạt động, có điều kiện tiếp nhận gì và người đến gặp có muốn kết nối không.
Trong tình huống giả định về người làm ca, mục tiêu tuần đầu có thể chỉ là xác định một khoảng thời gian khả thi và một nơi lưu ghi chép an toàn. Nếu chưa có điều kiện, người làm tham vấn có thể thực hiện phần phản tư trong buổi gặp. Sự điều chỉnh này cần được ghi nhận và xem lại, không biến thành một giả định vĩnh viễn rằng người ấy không thể học kỹ năng mới.
Câu hỏi cho việc xem lại kế hoạch
- Việc này đòi hỏi nguồn lực nào mà tôi đang mặc định người ấy có?
- Người đến gặp coi rào cản nào là quan trọng nhất?
- Điều gì có thể thay đổi trong dịch vụ của chính mình để tăng khả năng tiếp cận?
- Khi kế hoạch không được thực hiện, tôi có hỏi về điều kiện trước khi gán nghĩa cho hành vi không?
Thực hành theo bối cảnh không có nghĩa mọi khó khăn đều do môi trường. Nó giúp hình thành cách hiểu nhiều lớp và chọn một bước khả thi. Một kế hoạch nhỏ được thực hiện và xem lại thường cho nhiều thông tin hơn một kế hoạch toàn diện chỉ tồn tại trên giấy.
Tài liệu tham khảo
World Health Organization & Calouste Gulbenkian Foundation. (2014). Social determinants of mental health. https://www.who.int/publications/i/item/9789241506809
American Psychiatric Association. (2013). Cultural formulation interview. https://www.psychiatry.org/File%20Library/Psychiatrists/Practice/DSM/APA_DSM5_Cultural-Formulation-Interview.pdf
World Health Organization. (2022). WHO guidelines on mental health at work. https://www.who.int/publications/i/item/9789240053052
BÀI 03 / THIẾT KẾ NHÓM ĐỒNG NGHIỆP
Nhóm đồng nghiệp: có mặt mà không vội sửa nhau
Một nhóm hỗ trợ nghề nghiệp cần biết mình đang lắng nghe, học tập hay giám sát; sự thân thiện không tự tạo ra phạm vi và trách nhiệm rõ ràng.

Trong một buổi gặp đồng nghiệp, một thành viên vừa nói mình bối rối thì ba người lập tức đưa giải pháp. Người kể cảm ơn nhưng rời buổi gặp với cảm giác chưa được hiểu. Một nhóm có nhiều kiến thức vẫn có thể thiếu một cấu trúc giúp xác định điều người tham gia đang cần.
Chọn loại cuộc trao đổi trước khi chọn lời khuyên
Trước buổi gặp, nhóm cần thống nhất mình sẽ làm gì: lắng nghe nhau về công việc, cùng đọc tài liệu, luyện kỹ năng bằng tình huống giả định hay tổ chức giám sát chuyên môn có người chịu trách nhiệm. Mỗi hình thức có yêu cầu khác nhau về vai trò và bảo mật (APA, 2025; ACA, 2014; NIOSH, 2024).
Một nhóm bạn đồng nghiệp không tự trở thành giám sát chuyên môn. Nếu chưa có thỏa thuận và vai trò phù hợp, không đưa hồ sơ thật vào như thể đã có một không gian chuyên môn được bảo vệ. Có thể dùng tình huống giả định hoặc bàn về trải nghiệm của người làm nghề mà không tiết lộ thân chủ.
Kịch bản cho một buổi 45 phút
- 5 phút mở đầu: nhắc phạm vi, bảo mật và quyền không chia sẻ.
- 10 phút lắng nghe: một người nêu vấn đề nghề nghiệp, nói rõ muốn được nghe hay muốn nhận ý tưởng.
- 15 phút trao đổi: người khác hỏi để hiểu trước, rồi xin phép trước khi đề xuất.
- 10 phút lựa chọn: người trình bày chọn điều hữu ích và điều chưa phù hợp.
- 5 phút kết thúc: xác định việc cần hỗ trợ ngoài nhóm và xem lại cách nhóm đã làm việc.
Lịch này là một thiết kế minh họa, có thể thay đổi theo mục tiêu. Không biến thời lượng thành lý do cắt ngang một vấn đề cần xử lý theo quy trình an toàn; cũng không để một thành viên liên tục chiếm toàn bộ buổi gặp.
Một câu hỏi có thể đổi nhịp nhóm
“Bạn muốn chúng mình chỉ nghe thêm một lúc, cùng làm rõ câu hỏi, hay đưa ra vài lựa chọn?”
“Ý kiến của mình có thể không phù hợp với bối cảnh bạn đang ở. Bạn muốn nghe để cân nhắc không?”
Những câu này trả lại quyền chọn cho người trình bày. Tuy nhiên, nếu nhóm thấy vấn đề vượt phạm vi hoặc có nguy cơ, cần nói rõ và tìm kênh hỗ trợ phù hợp; tôn trọng không có nghĩa im lặng trước mọi điều.
Xem lại cách nhóm đang hoạt động
Sau vài buổi, hỏi thành viên có thể bất đồng không, người ít kinh nghiệm có được nghe không và lời khuyên có được trình bày như một khả năng hay một mệnh lệnh. Nếu ai cũng phải tỏ ra ổn để thuộc về nhóm, không gian ấy khó hỗ trợ học tập thật.
Một nhóm hữu ích giúp thành viên được lắng nghe và biết mình sẽ làm gì tiếp theo. Nó không cần giải quyết mọi vấn đề trong một lần gặp, nhưng cần biết giới hạn của mình.
Tài liệu tham khảo
American Psychological Association. (2025). Guidelines for clinical supervision in health service psychology. https://www.apa.org/about/policy/guidelines-clinical-supervision
American Counseling Association. (2014). 2014 ACA code of ethics. https://www.counseling.org/docs/default-source/default-document-library/ethics/2014-aca-code-of-ethics.pdf
National Institute for Occupational Safety and Health. (2024). Impact Wellbeing™ guide: Taking action to improve healthcare worker wellbeing (Revised July 2024). https://doi.org/10.26616/NIOSHPUB2024109revised072024
BÀI 04 / ĐỒNG HÀNH VỚI MẤT MÁT
Khi người đang buồn chưa muốn kể
Không muốn kể có thể là một lựa chọn cần được tôn trọng. Người hỗ trợ vẫn có thể hiện diện, hỏi nhu cầu và giúp những việc cụ thể.

Sau một mất mát, người xung quanh thường hỏi “chuyện xảy ra thế nào?” hoặc “bạn đang cảm thấy gì?”. Với người đang đau buồn, lặp lại câu chuyện có thể là điều họ muốn làm, cũng có thể là việc họ chưa muốn đối diện trong lúc này. Im lặng không tự cho biết họ đang xử lý tốt hay đang gặp khó khăn nghiêm trọng.
Người đang đau buồn không cần kể hết câu chuyện để được giúp. Hỗ trợ thực tế, sự tôn trọng lựa chọn của họ và việc chú ý những khó khăn kéo dài đều quan trọng hơn việc thúc họ nói theo nhịp của người khác (WHO và cộng sự, 2011; American Psychiatric Association, n.d.; Doka, 2021).
Ở cạnh mà không tạo thêm nhiệm vụ
Tình huống giả định: Một đồng nghiệp vừa mất người thân, nói “mình chưa muốn nói chuyện”.
Lời đáp có thể cân nhắc: “Mình hiểu. Bạn không cần kể. Chiều nay mình có thể giúp chuyển cuộc hẹn hoặc mang đồ ăn; bạn muốn điều nào, hay muốn mình để bạn yên một lúc?”
Điểm hữu ích là lời đề nghị có phạm vi rõ và cho phép từ chối. “Cần gì cứ gọi” có thể chân thành nhưng vẫn đặt toàn bộ công việc xác định nhu cầu, chọn người và mở lời lên người đang buồn. Một đề nghị cụ thể giảm phần tổ chức đó, miễn là không được thực hiện trước khi họ đồng ý.
Trong phòng tham vấn, im lặng vẫn cần được hiểu
Người làm tham vấn có thể hỏi người đến gặp muốn dùng buổi hôm nay thế nào: ngồi cùng, nói về việc thường ngày, bàn chuyện đang khó xoay xở hay tìm một nguồn hỗ trợ. Không cần thúc người ấy kể chi tiết mất mát để buổi gặp có vẻ “đi vào vấn đề”. Đồng thời, không nên mặc định im lặng luôn có lợi hoặc đồng nghĩa với đồng thuận.
Nếu người ấy nói ít hơn trước, người làm tham vấn cần xem thay đổi trong bối cảnh, trao đổi về khả năng sinh hoạt và những nhu cầu cần hỗ trợ. Khi có dấu hiệu nguy cơ hoặc khó khăn đáng kể, cần đánh giá và kết nối chuyên môn phù hợp. Một thái độ dịu dàng không thay thế trách nhiệm đánh giá.
Những lời dễ làm người khác phải gồng thêm
- “Bạn phải mạnh mẽ” có thể khiến họ thấy cần che cảm xúc để người khác yên tâm.
- “Ít nhất thì…” dễ chuyển cuộc trò chuyện sang tìm mặt tích cực trước khi nỗi mất mát được nghe.
- “Tôi hiểu chính xác” có thể xóa khác biệt giữa hai trải nghiệm.
Có thể dùng lời giản dị hơn: “Mình không biết hết điều bạn đang trải qua. Mình có thể ở đây và nghe theo cách bạn muốn.” Sau đó cần thực sự chấp nhận nếu người ấy chọn chưa nói.
Một lời đề nghị giúp đỡ không nhất thiết phải dẫn đến cuộc trò chuyện sâu. Đôi khi giá trị của nó nằm ở việc người đang buồn không phải chăm sóc cảm xúc của người tới giúp, và biết lời đề nghị hỗ trợ vẫn có thể được xem lại vào một lúc khác.
Tài liệu tham khảo
World Health Organization, War Trauma Foundation, & World Vision International. (2011). Psychological first aid: Guide for field workers. World Health Organization. https://www.who.int/publications/i/item/9789241548205
American Psychiatric Association. (n.d.). Prolonged grief disorder. https://www.psychiatry.org/patients-families/prolonged-grief-disorder
Doka, K. J. (2021, October). Maintaining continuing bonds with the deceased. In Perspectives on grief and loss. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2021/10/perspectives-on-grief-and-loss/
BÀI 05 / TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ
Ký ức có thể có một chỗ trong đời sống hiện tại
Ký ức có thể được giữ theo nhiều cách. Điều cần tìm hiểu là mối liên hệ ấy nâng đỡ hay làm người đang sống bị mắc kẹt trong nghĩa vụ và đau khổ.

Một tấm ảnh, món ăn quen hoặc câu nói của người đã mất có thể tiếp tục hiện diện trong cuộc sống. Người ngoài đôi khi coi việc giữ những dấu vết ấy là “chưa buông bỏ”. Nhưng câu hỏi cần thiết hơn là chúng có ý nghĩa gì với chính người giữ và ảnh hưởng thế nào đến đời sống hiện tại.
Không có quy tắc chung rằng giữ kỷ vật là tốt hay xấu. Điều cần tìm hiểu là kỷ vật ấy có ý nghĩa gì với người đang buồn, giúp họ duy trì kết nối ra sao và có khiến đời sống hiện tại bị thu hẹp hay không (Doka, 2021; American Psychiatric Association, n.d., 2013).
Một đồ vật, hai trải nghiệm khác nhau
Trong ví dụ giả định thứ nhất, một người giữ cuốn sổ công thức của mẹ, thỉnh thoảng nấu một món và mời bạn bè ăn. Họ thấy vừa buồn vừa gần gũi với ký ức. Trong ví dụ thứ hai, một người cảm thấy phải giữ nguyên mọi thứ, không được đi đâu hay thay đổi điều gì vì sợ có lỗi. Bề ngoài cả hai đều đang giữ kỷ vật, nhưng câu hỏi hỗ trợ sẽ khác nhau.
Với người thứ nhất, có thể tìm hiểu cách hoạt động ấy nối ký ức với quan hệ hiện tại. Với người thứ hai, cần lắng nghe ý nghĩa của nghĩa vụ, mức đau khổ và điều họ muốn nhưng chưa thể làm. Không tự động chẩn đoán chỉ từ một hành vi; cũng không khẳng định mọi cách tưởng nhớ đều có ích.
Một câu hỏi có thể mở đối thoại: “Khi giữ điều này, bạn cảm thấy được nâng đỡ, bị ràng buộc, hay có cả hai?”
Quan hệ với người đã mất cũng có thể phức tạp
Không phải ký ức nào cũng ấm áp. Người đang buồn có thể cùng lúc nhớ thương, giận, nhẹ nhõm hoặc tiếc điều chưa từng có. Mời họ kể “một kỷ niệm đẹp” quá sớm có thể làm các phần khó nói bị gạt ra ngoài. Người làm tham vấn có thể để người ấy tự chọn điều muốn được ghi nhận, kể cả sự mâu thuẫn.
Trong gia đình, mỗi người có thể muốn một cách tưởng nhớ khác nhau. Một người muốn trưng ảnh, người khác muốn giữ riêng. Bất đồng không nhất thiết chứng minh ai yêu thương ít hơn. Cần thương lượng không gian chung và tôn trọng những lựa chọn cá nhân khi có thể.
Từ ký ức đến hành động có lựa chọn
Nếu thân chủ muốn, có thể cùng họ nghĩ một hành động nhỏ: viết một đoạn chỉ để giữ riêng, nấu món quen, kể một câu chuyện hoặc không làm gì vào thời điểm hiện tại. Người ấy có thể chọn làm hoặc không làm; sau đó, hãy hỏi trải nghiệm thật của họ thay vì chờ một kết quả định sẵn. Sau hoạt động, hỏi trải nghiệm thực tế thay vì chờ một kết quả “chữa lành”.
Khi đau khổ dai dẳng làm sinh hoạt bị ảnh hưởng đáng kể, việc tìm hỗ trợ chuyên môn cần được cân nhắc. Mục tiêu không phải xóa ký ức để tiếp tục sống; đó là tìm một cách sống mà ký ức, các nhu cầu hiện tại và những quan hệ mới có thể được nhìn nhận cùng nhau.
Tài liệu tham khảo
Doka, K. J. (2021, October). Maintaining continuing bonds with the deceased. In Perspectives on grief and loss. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2021/10/perspectives-on-grief-and-loss/
American Psychiatric Association. (n.d.). Prolonged grief disorder. https://www.psychiatry.org/patients-families/prolonged-grief-disorder
American Psychiatric Association. (2013). Cultural formulation interview. https://www.psychiatry.org/File%20Library/Psychiatrists/Practice/DSM/APA_DSM5_Cultural-Formulation-Interview.pdf
BÀI 06 / KẾ HOẠCH CHO NGÀY ĐẶC BIỆT
Những ngày đặc biệt sau một mất mát
Ngày giỗ, sinh nhật hay dịp lễ có thể cần một kế hoạch linh hoạt: điều muốn giữ, điều muốn giảm và người có thể hỗ trợ.

Một ngày đặc biệt có thể đến cùng nhiều mong đợi: gia đình muốn sum họp, bạn bè muốn người đang buồn vui lên, bản thân người ấy lại chưa biết mình muốn gì. Cảm xúc cũng có thể khác năm trước. Kế hoạch hữu ích không nhằm kiểm soát nỗi buồn, mà tạo thêm lựa chọn khi ngày ấy tới.
Chuẩn bị cho sự thay đổi, không dự đoán cảm xúc
Trước một ngày dễ gợi nhớ, người đang buồn có thể muốn ở cùng gia đình, dành thời gian riêng hoặc thay đổi ý vào phút cuối. Kế hoạch nên chừa chỗ cho những lựa chọn ấy và tôn trọng cách tưởng nhớ của từng người (Doka, 2021; WHO và cộng sự, 2011; American Psychiatric Association, n.d.).
Một kế hoạch minh họa
Điều muốn giữ: ăn một bữa cùng người thân.
Điều muốn giảm: không phải kể lại câu chuyện mất mát với từng người.
Người hỗ trợ: một người biết trước rằng mình có thể cần ra ngoài nghỉ.
Phương án khác: tham gia trong thời gian ngắn hoặc đổi sang một hoạt động riêng.
Người ấy không cần xin phép ai để được buồn; việc trao đổi trước chỉ giúp người thân biết cách hỗ trợ. Nó là cách trao đổi trước để người khác biết điều gì có thể giúp. Một câu đơn giản có thể là: “Mình muốn đến, nhưng có thể về sớm. Nếu mình ra ngoài một lúc, xin đừng buộc mình giải thích ngay.”
Khi các thành viên muốn điều khác nhau
Có người muốn nhắc tên người đã mất, có người thấy khó khi nhìn ảnh. Có thể phân biệt phần chung và phần riêng: một hoạt động ngắn mọi người đồng ý, cùng quyền tham gia thêm hoặc không. Tránh dùng việc có mặt, khóc hay phát biểu làm thước đo tình cảm.
Nếu trẻ em tham gia, người lớn cần giải thích hoạt động bằng lời phù hợp lứa tuổi và cho phép hỏi. Không giao cho trẻ nhiệm vụ an ủi cả gia đình hoặc quyết định thay người lớn những việc quá sức. Khi tình huống phức tạp, tìm người có chuyên môn phù hợp với trẻ và mất mát.
Sau ngày ấy vẫn cần chỗ để quay lại
Người hỗ trợ có thể hỏi một lần vào thời điểm đã thống nhất: “Hôm qua có điều gì giúp bạn, điều gì làm khó hơn?” Đừng mặc định một ngày trôi qua suôn sẻ nghĩa là nỗi buồn đã kết thúc. Cũng không cần phân tích mọi cảm xúc như dấu hiệu bệnh lý.
Nếu có khó khăn đáng kể trong sinh hoạt, đau khổ kéo dài hoặc lo ngại về an toàn, cần hỗ trợ chuyên môn phù hợp thay vì chỉ điều chỉnh nghi lễ. Bài viết là gợi ý lập kế hoạch, không phải công cụ chẩn đoán.
Một ngày đặc biệt không cần được tổ chức hoàn hảo. Cho phép thay đổi kế hoạch, giữ một phần riêng tư và nhờ giúp một việc cụ thể có thể khiến ngày ấy bớt gánh nặng hơn.
Tài liệu tham khảo
Doka, K. J. (2021, October). Maintaining continuing bonds with the deceased. In Perspectives on grief and loss. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2021/10/perspectives-on-grief-and-loss/
World Health Organization, War Trauma Foundation, & World Vision International. (2011). Psychological first aid: Guide for field workers. World Health Organization. https://www.who.int/publications/i/item/9789241548205
American Psychiatric Association. (n.d.). Prolonged grief disorder. https://www.psychiatry.org/patients-families/prolonged-grief-disorder
BÀI 07 / HƯỚNG DẪN CỘNG ĐỒNG
Cộng đồng quan tâm bằng những việc có thể làm được
Sự quan tâm hữu ích cần có việc cụ thể, sự đồng ý và cách theo dõi; người được giúp vẫn giữ quyền quyết định.

Khi một gia đình trải qua mất mát, nhiều lời động viên có thể đến cùng lúc, rồi nhanh chóng giảm đi. Trong khi đó, việc đón con, đi chợ, xử lý giấy tờ hoặc trở lại công việc vẫn tiếp tục. Một cộng đồng muốn giúp cần hỏi mình có thể làm điều gì rõ ràng và giữ lời đến mức nào.
Sau mất mát, giúp một bữa ăn, đưa đón con hoặc cùng xử lý giấy tờ có thể hữu ích hơn một lời hứa chung chung. Hỗ trợ cần dựa trên điều gia đình thực sự muốn nhận, đồng thời tôn trọng quyền riêng tư và giới hạn của người giúp (WHO và cộng sự, 2011; WHO & Calouste Gulbenkian Foundation, 2014; American Psychiatric Association, n.d.).
Từ thiện ý đến một lời đề nghị dùng được
| Lời đề nghị còn rộng | Cách cụ thể hơn |
|---|---|
| Có gì cứ nhờ. | Chiều thứ năm tôi có thể đi chợ giúp; bạn có muốn không? |
| Mọi người sẽ luôn ở đây. | Tôi có thể gọi vào tối thứ ba nếu bạn muốn; nếu chưa muốn nói, mình đổi lúc khác. |
| Chúng tôi sẽ đăng bài kêu gọi giúp. | Bạn có muốn nhận hỗ trợ này không, và thông tin nào được phép chia sẻ? |
Cụ thể không có nghĩa tự làm trước rồi thông báo. Một chuyến thăm bất ngờ hoặc bài đăng công khai có thể tạo thêm áp lực. Sự đồng ý cần bao gồm cả việc giúp và cách dùng thông tin.
Tổ chức để người nhận không phải điều phối tất cả
Nếu gia đình đồng ý, có thể chọn một đầu mối, một danh sách việc và khung thời gian ngắn. Người đầu mối chỉ chia sẻ điều cần thiết với người thực hiện. Không mở một nhóm trò chuyện lớn chứa toàn bộ chi tiết hoàn cảnh chỉ vì muốn mọi người cùng biết.
Trong ví dụ giả định, ba người thống nhất hỗ trợ bữa ăn hai lần trong tuần đầu. Họ hỏi trước về nhu cầu, thời gian nhận và điều không phù hợp. Sau tuần đó, người đầu mối hỏi gia đình muốn tiếp tục, thay đổi hay dừng. Cách làm này tạo một điểm xem lại thay vì mặc định người nhận phải chấp nhận lòng tốt vô thời hạn.
Biết phần việc vượt quá vai trò
Người tình nguyện có thể lắng nghe và hỗ trợ sinh hoạt nhưng không nên tự đánh giá chẩn đoán, hứa giữ bí mật tuyệt đối trong mọi tình huống hoặc nhận trách nhiệm hỗ trợ khẩn cấp khi chưa có khả năng. Nếu xuất hiện lo ngại về an toàn hoặc khó khăn nghiêm trọng, cần kết nối nguồn chuyên môn phù hợp.
Người giúp cũng cần giới hạn có thể duy trì. Nói “tôi giúp được hai buổi” đáng tin hơn hứa luôn sẵn sàng rồi biến mất. Khi phải dừng, thông báo rõ và hỗ trợ chuyển tiếp nếu đã có cam kết.
Cộng đồng giúp được nhiều nhất khi nhận một phần việc cụ thể, làm đúng điều đã hứa và để gia đình được quyết định cách nhận hỗ trợ.
Tài liệu tham khảo
World Health Organization, War Trauma Foundation, & World Vision International. (2011). Psychological first aid: Guide for field workers. World Health Organization. https://www.who.int/publications/i/item/9789241548205
World Health Organization & Calouste Gulbenkian Foundation. (2014). Social determinants of mental health. https://www.who.int/publications/i/item/9789241506809
American Psychiatric Association. (n.d.). Prolonged grief disorder. https://www.psychiatry.org/patients-families/prolonged-grief-disorder
BÀI 08 / ĐIỀU PHỐI THẢO LUẬN
Một cuộc họp nhóm có thể dành chỗ cho tiếng nói nhỏ
Tiếng nói ít xuất hiện có thể phản ánh nhiều điều: nhịp suy nghĩ, ngôn ngữ, vai trò hoặc cảm giác về quyền lực trong nhóm.

Trong một cuộc họp, người điều phối hỏi “còn ai có ý kiến không?” rồi chờ vài giây. Không ai nói, và nhóm chuyển sang quyết định. Sự im lặng được coi là đồng thuận, dù một số thành viên chưa kịp sắp xếp suy nghĩ hoặc không chắc mình có thể bất đồng với người giữ vai trò đánh giá.
Đổi cấu trúc trước khi yêu cầu người khác mạnh dạn
Một người có ý kiến vẫn có thể im lặng nếu phải phản đối người đang đánh giá mình hoặc không kịp nghĩ trước khi nhóm chốt quyết định. Người điều phối cần thiết kế cách tham gia phù hợp với những khác biệt về quyền lực, ngôn ngữ và kinh nghiệm, thay vì chỉ yêu cầu mọi người “mạnh dạn hơn” (Shaw, 2016; HHS, n.d.; APA, 2025).
Có thể gửi câu hỏi trước, dành một phút viết riêng và cho phép trả lời bằng văn bản. Người điều phối đọc các ý chưa xuất hiện mà không ép người viết phải kể thêm trải nghiệm cá nhân. Những thay đổi nhỏ này tạo thêm đường tham gia, không bảo đảm mọi người sẽ thấy an toàn ngay.
Mời nói khác với gọi tên để kiểm tra
Dễ gây áp lực: “Bạn im lặng từ đầu, chắc phải có ý kiến chứ?”
Có thêm lựa chọn: “Mình muốn dành chỗ cho những góc nhìn chưa được nghe. Bạn có thể nói lúc này, viết lại sau hoặc chọn chưa chia sẻ.”
Nếu người được mời chọn không nói, cần tôn trọng lựa chọn đó. Mời tham gia nhưng sau đó diễn giải sự từ chối là thiếu hợp tác sẽ làm lời mời mất ý nghĩa.
Khi ý kiến trái với người có quyền quyết định
Người điều phối có thể nói rõ phần nào đang xin góp ý và phần nào đã có giới hạn. Nếu một quyết định không còn mở để thay đổi, đừng tổ chức một cuộc thảo luận như thể mọi người có quyền lựa chọn ngang nhau. Minh bạch về quyền quyết định giúp thành viên biết góp ý của họ có thể tác động ở đâu.
Trong nhóm có người giám sát và người được đánh giá, nên thừa nhận sự khác biệt vai trò. Không hứa “ở đây hoàn toàn không có quyền lực”; thay vào đó, nói cách phản hồi được dùng, điều gì được ghi nhận và có kênh nào để nêu vướng mắc.
Quan sát sau vài buổi
- Có cùng một vài người mở và kết thúc mọi chủ đề không?
- Ý kiến mới có được xem xét hay chỉ được cảm ơn rồi bỏ qua?
- Người dùng ngôn ngữ khác có đủ thời gian diễn đạt không?
- Thành viên có biết điều gì đã thay đổi từ góp ý của họ không?
Mục tiêu không phải chia đều số phút một cách máy móc. Đó là để những người có thông tin hoặc câu hỏi liên quan có cơ hội đóng góp, đồng thời bảo vệ quyền chưa muốn nói của họ.
Tài liệu tham khảo
Shaw, S. (2016, December). Practicing cultural humility. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2016/12/practicing-cultural-humility/
U.S. Department of Health and Human Services, Office of Minority Health. (n.d.). National CLAS standards. https://thinkculturalhealth.hhs.gov/clas
American Psychological Association. (2025). Guidelines for clinical supervision in health service psychology. https://www.apa.org/about/policy/guidelines-clinical-supervision
BÀI 09 / THƯƠNG LƯỢNG KHỐI LƯỢNG VIỆC
Nói không với một việc mới mà vẫn giữ sự hợp tác
Từ chối một việc mới rõ ràng hơn khi nói được giới hạn hiện tại, hệ quả của việc nhận thêm và lựa chọn có thể thực hiện.

Một lời mời giảng, một ca mới hoặc một dự án cộng đồng đều có thể đáng làm. Khó khăn xuất hiện khi mọi cơ hội đều được nhận bằng thời gian vốn dành cho ghi chép, giám sát và nghỉ ngơi. Nói không trong công việc hỗ trợ con người thường đi kèm cảm giác có lỗi, nhưng nhận rồi không làm được cũng có hệ quả.
Trước khi trả lời, nhìn phần việc bị đẩy đi
Trước khi nhận việc mới, hãy tính cả thời gian chuẩn bị, phối hợp và theo dõi, rồi xem phần việc nào sẽ phải lùi lại. Giữ khối lượng ở mức có thể thực hiện tốt là một phần của trách nhiệm với người được hỗ trợ và với chính người làm nghề (WHO, 2022; NIOSH, 2024; ACA, 2014).
Với một việc mới, ghi nhanh thời gian chuẩn bị, thực hiện, phối hợp và theo dõi. Một buổi chia sẻ kéo dài một giờ có thể đòi hỏi nhiều phần việc ngoài giờ lên sân khấu. Đánh giá thấp phần chuẩn bị dễ khiến lời đồng ý ban đầu trở thành áp lực kéo dài.
Ba cách trả lời có phạm vi
Không nhận: “Hiện tôi không có đủ thời gian để làm việc này ở mức chất lượng cần thiết, nên tôi xin không nhận đợt này.”
Nhận một phần: “Tôi có thể đọc góp ý đề cương trong phạm vi đã thống nhất; tôi chưa thể đảm nhiệm việc giảng và theo dõi học viên.”
Thương lượng ưu tiên: “Nếu cần tôi phụ trách việc mới, mình cần thống nhất nhiệm vụ nào sẽ được lùi hoặc chuyển cho người khác.”
Các lời thoại là minh họa, không phải cách bảo đảm người nghe sẽ hài lòng. Điểm chung là không để sự hợp tác phụ thuộc vào một lời hứa mơ hồ. Nếu đưa lựa chọn thay thế, cần chắc mình thực sự có thể làm phần đó.
Đừng chuyển áp lực sang người khác mà chưa hỏi
Đề cử một đồng nghiệp có thể hữu ích, nhưng không được hứa họ sẽ nhận. Có thể xin phép chia sẻ thông tin liên hệ công khai hoặc hỏi họ có muốn được kết nối. Tương tự, nếu đang có trách nhiệm với một dịch vụ, việc dừng cần tính đến cam kết và chuyển tiếp phù hợp, không chỉ gửi một tin từ chối.
Đọc cảm giác có lỗi như thông tin, không như mệnh lệnh
Cảm giác có lỗi có thể cho thấy công việc có ý nghĩa, hoặc phản ánh thói quen luôn sẵn sàng. Nó không tự chứng minh quyết định từ chối là sai. Có thể đem mẫu lặp này vào giám sát hoặc hỗ trợ cá nhân nếu cần, đồng thời vẫn giữ quyết định thực tế về khả năng hiện tại.
Sau một thời gian, xem lại những lời nhận việc của mình: có khớp năng lực và lịch thật không, hay luôn dựa trên một phiên bản tương lai ít bận hơn? Giới hạn đáng tin giúp người khác lập kế hoạch và giúp chất lượng công việc không phụ thuộc vào việc liên tục làm quá sức.
Tài liệu tham khảo
World Health Organization. (2022). WHO guidelines on mental health at work. https://www.who.int/publications/i/item/9789240053052
National Institute for Occupational Safety and Health. (2024). Impact Wellbeing™ guide: Taking action to improve healthcare worker wellbeing (Revised July 2024). https://doi.org/10.26616/NIOSHPUB2024109revised072024
American Counseling Association. (2014). 2014 ACA code of ethics. https://www.counseling.org/docs/default-source/default-document-library/ethics/2014-aca-code-of-ethics.pdf
BÀI 10 / THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TƯỞNG NHỚ
Một góc tưởng nhớ do người tham gia cùng lựa chọn
Một góc tưởng nhớ cần có lựa chọn về tham gia, nội dung và sự riêng tư; vẻ đẹp của hoạt động không quan trọng hơn trải nghiệm của người có mặt.

Một trường học hoặc nhóm cộng đồng muốn đặt ảnh, hoa và lời nhắn để tưởng nhớ người đã mất. Ý định có thể chân thành, nhưng trước khi thiết kế cần hỏi ai mong muốn hoạt động này, ai có thể bị ảnh hưởng và ai có quyền quyết định hình ảnh, câu chuyện được đưa ra công khai.
Bắt đầu từ ý nghĩa, chưa bắt đầu từ trang trí
Một góc tưởng nhớ chỉ có ý nghĩa khi người liên quan được hỏi họ muốn nhớ về người đã mất theo cách nào, và có muốn hoạt động ấy diễn ra công khai hay không. Cách tổ chức cần tôn trọng phẩm giá, bối cảnh văn hóa và quyền lựa chọn của gia đình, thay vì mặc định ai cũng cần một nghi lễ chung (Doka, 2021; WHO và cộng sự, 2011; American Psychiatric Association, 2013).
Nhóm tổ chức có thể hỏi gia đình và người liên quan về mục đích: muốn ghi nhận một cuộc đời, có nơi gửi lời nhắn hay cùng có mặt? Các mục đích khác nhau dẫn tới cách tổ chức khác nhau. Nếu chưa đạt đồng thuận, một hoạt động riêng tư hoặc trì hoãn có thể phù hợp hơn cố hoàn thành theo lịch của tổ chức.
Bốn quyết định cần nói rõ
| Quyết định | Điều cần bàn |
|---|---|
| Nội dung | Ảnh, tên, lời nhắn nào được phép sử dụng? Ai duyệt? |
| Tham gia | Có thể chỉ đứng nhìn, không viết hoặc không tham gia không? |
| Riêng tư | Có chụp ảnh, quay phim hoặc đăng mạng không? Sự đồng ý được lấy thế nào? |
| Kết thúc | Hoạt động kéo dài bao lâu, đồ vật và lời nhắn được trả, lưu hay xử lý ra sao? |
Những quyết định cuối cùng thường bị quên. Một tờ giấy có lời rất riêng không nên trở thành ảnh truyền thông chỉ vì đã được đặt trong không gian chung. Cũng cần thông báo trước khi tháo góc tưởng nhớ để việc kết thúc không trở thành một mất mát bất ngờ khác.
Cho phép nhiều cách hiện diện
Trong ví dụ giả định, nhóm bố trí một bàn nhỏ ở khu vực có thể đi qua hoặc tránh, kèm thông tin về quyền không tham gia. Một người phụ trách sẵn sàng hỗ trợ nếu ai đó muốn rời đi. Người tham gia có thể để lời nhắn trong phong bì riêng, thay vì mọi nội dung đều được đọc công khai.
Không dùng số người tham gia hoặc số lời nhắn để đánh giá mức gắn bó của cộng đồng. Người không đến có thể có lý do riêng, và người có mặt cũng không nhất thiết muốn bộc lộ cảm xúc trước đám đông.
Hoạt động không thay thế hỗ trợ chuyên môn
Một nghi lễ có thể có ý nghĩa nhưng không bảo đảm giảm đau khổ. Cần biết kênh hỗ trợ phù hợp nếu có người cần thêm trợ giúp. Với trẻ em hoặc tình huống phức tạp, việc thiết kế cần có người có chuyên môn liên quan tham gia.
Sau hoạt động, hỏi người liên quan điều gì phù hợp, điều gì cần thay đổi và việc lưu giữ có đúng thỏa thuận không. Sự tôn trọng thể hiện cả trong lúc tổ chức lẫn cách chăm sóc những dấu vết còn lại.
Tài liệu tham khảo
Doka, K. J. (2021, October). Maintaining continuing bonds with the deceased. In Perspectives on grief and loss. Counseling Today. https://ctarchive.counseling.org/2021/10/perspectives-on-grief-and-loss/
World Health Organization, War Trauma Foundation, & World Vision International. (2011). Psychological first aid: Guide for field workers. World Health Organization. https://www.who.int/publications/i/item/9789241548205
American Psychiatric Association. (2013). Cultural formulation interview. https://www.psychiatry.org/File%20Library/Psychiatrists/Practice/DSM/APA_DSM5_Cultural-Formulation-Interview.pdf