DSM-5-TR · SECTION II · NHÓM 13 · RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÌNH DỤC

Rối loạn đau vùng sinh dục–chậu/xâm nhập.

Genito-Pelvic Pain/Penetration Disorder

Đau, sợ đau hoặc khó xâm nhập cần được tiếp cận vừa y khoa vừa tâm lý, luôn tôn trọng đồng thuận.

Về nhóm 13 ↗
Ảnh minh họa: Pexels

Hiểu bệnh cảnh trong đời sống

DSM-5-TR mô tả khó khăn kéo dài với xâm nhập âm đạo, đau vùng âm hộ–âm đạo hoặc chậu, sợ đau, hay căng cơ sàn chậu khi dự đoán xâm nhập. Các thành phần có thể chồng lấp; người được đánh giá không cần trải nghiệm tất cả. Mức khổ sở và bối cảnh quan hệ rất quan trọng.

Nắm logic của mục trong DSM-5-TR

Đánh giá chức năng tình dục phải bắt đầu từ trải nghiệm và mục tiêu của chính người được đánh giá. Khác biệt về tần suất, ham muốn hoặc cách thực hành không tự động là rối loạn. DSM-5-TR xem xét tình trạng kéo dài, mức khổ sở có ý nghĩa lâm sàng và những yếu tố khác có thể giải thích tốt hơn. Không coi nhu cầu của bạn tình hay chuẩn mực xã hội là thước đo duy nhất.

Khó khăn có thể thay đổi theo bạn tình, hoàn cảnh, áp lực, đau, sức khỏe cơ thể, thuốc hoặc tình trạng tâm lý. Cần hỏi tính xuất hiện suốt đời hay mới mắc, xảy ra trong mọi tình huống hay chỉ một số tình huống, và mức khổ sở của người đó. Tôn trọng xu hướng tính dục, bản dạng giới và quyền từ chối hoạt động tình dục.

Mã tham khảoF52.6
ChươngSexual Dysfunctions
Trang in493–498

Diễn tiến, bối cảnh và chức năng

Hỏi bằng ngôn ngữ không phán xét, giải thích quyền riêng tư và chỉ thu thập chi tiết cần thiết. Đau, thay đổi nội tiết, bệnh thần kinh hoặc tác dụng thuốc có thể cần khám y khoa. Khi có dấu hiệu bạo lực hoặc ép buộc, đánh giá an toàn trước khi xem đây là khó khăn chức năng tình dục của một cá nhân.

Những điểm dễ bị bỏ sót

Chức năng tình dục có thể thay đổi theo giai đoạn cuộc sống và theo chất lượng quan hệ. Hỏi liệu khó khăn xảy ra trong mọi hoàn cảnh hay chỉ ở một bối cảnh, có từ trước hay xuất hiện sau thuốc, bệnh cơ thể, sinh nở, sang chấn hoặc thay đổi quan hệ. Cách hỏi cần cho phép người đó nói rằng họ không muốn hoạt động tình dục; việc không muốn không tự động là rối loạn.

Bối cảnh đồng thuận có ý nghĩa lâm sàng và đạo đức. Đau, lo sợ bị ép buộc hoặc thiếu an toàn có thể làm đáp ứng tình dục thay đổi; khi đó ưu tiên an toàn và quyền tự quyết. Người đánh giá không nên suy kết luận từ kỳ vọng của bạn tình, định kiến giới hoặc mục tiêu 'bình thường hóa' một mẫu ham muốn. Khi cần đánh giá nội tiết, thần kinh hoặc tác dụng thuốc, phối hợp bác sĩ.

Phân biệt với những khả năng gần nhau

Không xem đau là 'chỉ do tâm lý' khi chưa đánh giá y khoa phù hợp. Khó khăn do thiếu bôi trơn, bệnh da, bệnh vùng chậu hoặc hoàn cảnh thiếu an toàn có thể cần cách xử lý khác. Từ chối xâm nhập khi không muốn là quyền tự quyết, không phải triệu chứng.

Hướng dẫn đánh giá dành cho người làm tham vấn

Hỏi vị trí và thời điểm đau, hoạt động nào gây đau, lịch sử sản phụ khoa, nhiễm trùng, da niêm mạc, chấn thương, thuốc và sang chấn khi người đó sẵn sàng trao đổi. Xác định có dấu hiệu cần khám phụ khoa/đau vùng chậu; trao đổi về nỗi sợ, tránh né và tác động quan hệ mà không ép thử lại hành vi gây đau.

Các bước sau giúp tổ chức cuộc phỏng vấn; đây không phải quy trình chuẩn hóa do APA ban hành.

  1. Xác định vấn đề theo lời người được đánh giá và điều họ mong muốn, không theo kỳ vọng của người khác.
  2. Hỏi thời điểm khởi phát, tính theo tình huống, mức khổ sở và ảnh hưởng quan hệ.
  3. Khảo sát đau, thuốc, bệnh cơ thể, sức khỏe tâm thần, áp lực và an toàn trong quan hệ.
  4. Phân biệt thiếu cơ hội, không muốn hoạt động và khó khăn chức năng có khổ sở.
  5. Giải thích quyền riêng tư, hỏi đủ nhưng không yêu cầu chi tiết thân mật không cần thiết.
  6. Phối hợp khám y khoa hoặc chuyên khoa tình dục khi có chỉ định; thống nhất mục tiêu hỗ trợ với thân chủ.

Câu hỏi theo bệnh cảnh

Điểm cần làm rõCâu hỏi định hướng
Đau và cơ thểVị trí, tính chất, yếu tố kích hoạt, thăm khám đã có
Sợ/né tránhDự đoán đau, mức căng, ảnh hưởng hoạt động
An toànĐồng thuận và quyền dừng; không thúc ép tiếp xúc gây đau

Ghi hồ sơ và quyết định chuyển tiếp

Ghi rõ biểu hiện, nguồn thông tin, mức chắc chắn và ảnh hưởng đến đời sống. Phân biệt điều người bệnh kể với điều đã được quan sát hoặc kiểm tra; không biến một điểm thang đo, một cuộc phỏng vấn hoặc một ấn tượng thành kết luận chắc chắn. Khi còn thiếu dữ kiện, nêu điều cần tìm hiểu tiếp và thời điểm đánh giá lại.

Mã và chỉ dẫn trong bài là điểm tra cứu theo DSM-5-TR bản tiếng Anh 2022. Khi dùng trong hồ sơ thực tế, cần đối chiếu toàn văn mục tương ứng và hệ mã đang có hiệu lực tại cơ sở. Bảng và gợi ý phỏng vấn là phần biên soạn cho người làm tham vấn, không thay thế tiêu chuẩn đầy đủ, đánh giá y khoa hoặc quy trình bảo vệ.

Tra cứu DSM-5-TR

Nội dungTrang in, bản tiếng Anh 2022
Mục chẩn đoán và diễn giải493–498

Nguồn chính: American Psychiatric Association (2022). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (5th ed., text rev.; DSM-5-TR). Bài diễn giải có chọn lọc; khi xác lập chẩn đoán cần đối chiếu tiêu chuẩn đầy đủ và ghi chú trong sách. Trang in khác số trang PDF. Câu hỏi và ví dụ thực hành không phải công cụ chuẩn hóa. Mã tham khảo theo bản 2022; đối chiếu hệ thống mã tại cơ sở.

Ảnh minh họa: Pexels; không ngụ ý người trong ảnh có chẩn đoán.

← Quay lại nhóm 13 · Rối loạn chức năng tình dục