DSM-5-TR · SECTION II · NHÓM 11 · RỐI LOẠN BÀI TIẾT

Đái dầm.

Enuresis

Đánh giá kiểm soát tiểu tiện theo mức phát triển, bệnh sử và ảnh hưởng thực tế; tránh trách phạt trẻ.

Về nhóm 11 ↗
Ảnh minh họa: Pexels

Hiểu theo mức phát triển và hoàn cảnh

Trong DSM-5-TR, enuresis là việc tiểu ra giường hoặc quần áo lặp lại, có thể không chủ ý hoặc có chủ ý. Dù tiếng Việt thường dùng “đái dầm” để nói về ban đêm, phạm vi chẩn đoán còn bao gồm biểu hiện ban ngày và kết hợp cả hai. Cần xem tuổi ít nhất năm hoặc mức phát triển tương đương, cùng các yêu cầu khác.

DSM nêu hai cách xác định ý nghĩa lâm sàng: tần suất ít nhất hai lần mỗi tuần trong ba tháng liên tiếp, hoặc gây khổ sở hay suy giảm đáng kể. Không viết thành yêu cầu mọi trường hợp phải đồng thời đạt cả hai. Đồng thời cần đánh giá nguyên nhân cơ thể và tác động của chất hoặc thuốc.

Phát triểnXem khả năng kiểm soát tiểu tiện phù hợp tuổi và mức phát triển.
Diễn tiếnBan đêm, ban ngày hay cả hai; từ trước đến nay hay tái xuất hiện.
Bối cảnhPhối hợp nhi khoa và tìm ảnh hưởng tâm lý, học tập, sinh hoạt.

Hỏi trẻ và người chăm sóc theo cách không quy lỗi

MiềnNội dung cần làm rõ
Nhịp xảy raThời điểm, tần suất, khoảng thời gian và hoàn cảnh thường gặp.
Lịch sử kiểm soátTrẻ đã từng có giai đoạn khô ráo kéo dài chưa? Ghi rõ thời gian thay vì chỉ dùng từ “tái phát”.
Triệu chứng cơ thểĐau hoặc rát khi tiểu, khát nhiều, thay đổi lượng tiểu, táo bón, khó ngủ hoặc triệu chứng khác cần bác sĩ đánh giá.
Điều kiện sinh hoạtKhả năng tiếp cận nhà vệ sinh, cảm giác an toàn ở trường, lịch ngủ và những thay đổi gần đây.
Ảnh hưởngTrẻ có xấu hổ, tránh ngủ ở nơi khác, bị trêu chọc hoặc bị phạt không? Gia đình đang ứng phó thế nào?

Cho trẻ cơ hội nói về trải nghiệm của mình theo khả năng phát triển. Lời kể của người chăm sóc rất hữu ích nhưng không thay thế hoàn toàn góc nhìn của trẻ. Việc trẻ giấu quần áo ướt có thể phản ánh xấu hổ hoặc sợ bị phạt, không chứng minh rằng trẻ cố ý tiểu.

Phân biệt và phối hợp y khoa

Cần đánh giá các vấn đề như nhiễm khuẩn đường tiểu, đái tháo đường, bệnh lý tiết niệu hoặc thần kinh tùy biểu hiện, cùng tác dụng của thuốc. Táo bón cũng là thông tin quan trọng trong kế hoạch chăm sóc. Nếu một bệnh cơ thể giải thích trực tiếp biểu hiện, không dùng chẩn đoán DSM để thay thế chẩn đoán đó.

Sự xuất hiện sau một thay đổi hoặc stress cần được tìm hiểu, nhưng không tự chứng minh nguyên nhân tâm lý hay sang chấn. Trẻ cũng có thể có những khó khăn cảm xúc hoặc phát triển đi kèm cần hỗ trợ riêng.

Mã và cách ghi hồ sơ

Mã tham khảo F98.0. Ghi thể chỉ ban đêm (nocturnal only), chỉ ban ngày (diurnal only) hoặc cả hai. Mô tả diễn tiến và ảnh hưởng, những đánh giá y khoa đã có và điều còn cần làm rõ. Không chỉ ghi số lần rồi bỏ qua điều kiện phát triển và loại trừ.

Lưu ý cho counselor

Giúp gia đình hiểu rằng trách phạt, chế giễu hoặc công khai sự cố có thể tăng xấu hổ và làm trẻ khó hợp tác. Hỗ trợ những thói quen phù hợp, cách trao đổi bình tĩnh và kế hoạch riêng tư ở trường hoặc khi đi xa. Những biện pháp chuyên biệt như chuông báo hoặc thuốc cần theo hướng dẫn chuyên môn phù hợp.

Không tự khuyên hạn chế nước quá mức hoặc thay đổi thuốc. Mục tiêu tâm lý bao gồm giảm xấu hổ, duy trì tham gia hoạt động và giúp trẻ cảm thấy được hỗ trợ. Theo dõi cả sự tiến bộ chức năng và cảm xúc, không biến mỗi đêm khô ráo thành đánh giá phẩm chất của trẻ.

Tra cứu DSM-5-TR

Nội dungTrang in, bản tiếng Anh 2022
Tiêu chuẩn và các thể399–400
Đặc điểm, diễn tiến và phân biệt400–402

Nguồn chính: American Psychiatric Association (2022). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (5th ed., text rev.; DSM-5-TR). Bài diễn giải có chọn lọc; khi xác lập chẩn đoán cần đối chiếu tiêu chuẩn đầy đủ và ghi chú trong sách. Trang in khác số trang PDF. Câu hỏi và ví dụ thực hành không phải công cụ chuẩn hóa. Mã tham khảo theo bản 2022, trừ phần cập nhật nêu rõ; đối chiếu hệ thống mã tại cơ sở.

Ảnh minh họa: Pexels; không ngụ ý người trong ảnh có chẩn đoán.

← Quay lại nhóm 11 · Rối loạn bài tiết