DSM-5-TR · SECTION II · NHÓM 04 · CÁC RỐI LOẠN TRẦM CẢM

Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt.

Premenstrual Dysphoric Disorder — PMDD

Diễn giải DSM-5-TR, bảng tra cứu và hướng dẫn đánh giá dành cho người làm tham vấn.

Về nhóm các rối loạn trầm cảm ↗
Ảnh minh họa: Anete Lusina / Pexels

Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder — PMDD) là bệnh cảnh có những thay đổi khí sắc rõ rệt và các triệu chứng đi kèm theo một mô hình lặp lại của chu kỳ kinh nguyệt. Biểu hiện xuất hiện trước kỳ kinh, cải thiện sau khi bắt đầu hành kinh và giảm đến mức tối thiểu hoặc không còn trong tuần sau kỳ kinh.

Điểm cốt lõi là sự kết hợp giữa thời điểm trong chu kỳ, số lượng và tính chất triệu chứng, cùng khổ sở hoặc ảnh hưởng chức năng. Khó chịu trước kỳ kinh, đau bụng kinh và PMDD không phải những khái niệm có thể thay thế cho nhau. Không nên dùng chẩn đoán này để giải thích mặc định mọi cảm xúc mạnh của một người có kinh nguyệt.

Trước kỳ kinhÍt nhất 5 triệu chứng trong tuần cuối trước hành kinh.
Sau khởi đầu kỳ kinhBắt đầu cải thiện trong vài ngày; tối thiểu hoặc vắng mặt vào tuần sau kỳ kinh.
Xác nhậnGhi nhận triệu chứng hằng ngày, tiến cứu qua ít nhất 2 chu kỳ có triệu chứng.

Nắm logic chẩn đoán theo DSM-5-TR

PMDD được nhận diện không chỉ qua loại triệu chứng mà qua mối liên hệ lặp lại với chu kỳ kinh nguyệt. Cần tìm xem các thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi hoặc cơ thể tăng lên khi nào, giảm đi khi nào và có khoảng tương đối ít triệu chứng trong chu kỳ hay không.

Sự khó chịu phải được đặt cùng mức ảnh hưởng đến học tập, công việc và quan hệ. Một vài ngày dễ cáu hoặc đau bụng trước kỳ kinh không tự đủ để kết luận PMDD; cũng không nên xem những khó khăn đáng kể là điều phải chịu đựng bình thường.

Nhật ký tiến cứu hằng ngày qua ít nhất hai chu kỳ có triệu chứng giúp kiểm tra mô hình tốt hơn việc chỉ nhớ lại. Cần theo dõi cả những ngày cảm thấy ổn, vì triệu chứng kéo dài suốt tháng nhưng nặng lên trước kinh có thể là sự tăng nặng tiền kinh nguyệt của một tình trạng khác.

Tiền sử trầm cảm, lưỡng cực, lo âu, thuốc và bệnh lý cơ thể cần được xem xét. Nếu có nguy cơ tự hại hoặc suy giảm nghiêm trọng, việc hỗ trợ không chờ hoàn tất nhật ký. Tra tiêu chuẩn đầy đủ, cách xác nhận và chẩn đoán tạm thời tại DSM-5-TR, tr. 197–201.

Theo dõi chu kỳ như thế nào?

Nhật ký nhằm kiểm tra triệu chứng có thật sự tăng–giảm theo chu kỳ hay hiện diện xuyên suốt tháng. Có thể thống nhất một cách chấm mức độ nhất quán và ghi hằng ngày, cả những ngày cảm thấy ổn. Không chỉ ghi vào ngày khó chịu nhất hoặc cố nhớ lại toàn bộ tháng vào cuối kỳ.

Nội dung ghiCâu hỏi gợi ý
Ngày và mốc chu kỳNgày bắt đầu hành kinh là ngày nào? Hôm nay có ra kinh không?
Bốn nhóm khí sắcDao động cảm xúc, cáu gắt, trầm cảm, lo âu ở mức nào?
Các triệu chứng còn lạiHứng thú, tập trung, năng lượng, ăn, ngủ, quá tải và triệu chứng cơ thể thay đổi ra sao?
Chức năngĐiều gì bị cản trở ở công việc, học tập, quan hệ hoặc tự chăm sóc?
Bối cảnh liên quanThuốc, thay đổi giấc ngủ, sự kiện gây stress hay vấn đề sức khỏe nào cần ghi nhận?

Bảng trên là gợi ý tổ chức thông tin của VC, không phải một thang đo đã được chuẩn hóa. Nếu sử dụng công cụ đánh giá cụ thể, cần dùng hướng dẫn và phiên bản phù hợp.

Chẩn đoán phân biệt

  • Hội chứng tiền kinh nguyệt (Premenstrual Syndrome — PMS): không nhất thiết có ngưỡng năm triệu chứng và triệu chứng khí sắc cốt lõi như PMDD. Không suy ra PMDD chỉ từ triệu chứng cơ thể trước kỳ kinh.
  • Đau bụng kinh (dysmenorrhea): nổi bật bởi đau liên quan hành kinh; đau có thể ảnh hưởng tâm trạng nhưng không tự xác lập hội chứng PMDD.
  • Trầm cảm hoặc lo âu nặng lên trước kỳ kinh: nếu các triệu chứng tiếp tục rõ trong phần còn lại của chu kỳ, cần xem xét đợt tăng nặng trước kinh của một rối loạn đang có. Nhật ký giúp phân biệt các mô hình này.
  • Thuốc và bệnh cơ thể: đánh giá cùng bác sĩ khi có chỉ dấu, bao gồm tác động của điều trị nội tiết hoặc những tình trạng có biểu hiện tương tự. Không tự ngừng hay thay đổi thuốc để “thử” nguyên nhân.

Hướng dẫn đánh giá dành cho người làm tham vấn

  1. Hỏi về trải nghiệm và ảnh hưởng. Bắt đầu từ điều người bệnh gặp khó khăn nhất; không mặc định nguyên nhân nội tiết hoặc xem nhẹ triệu chứng như một phần bắt buộc của kinh nguyệt.
  2. Làm rõ nhịp thời gian. Xác định lúc bắt đầu tăng triệu chứng, lúc cải thiện và khoảng trong tháng ít hoặc không có triệu chứng. Tìm hiểu mô hình trong năm qua.
  3. Đối chiếu B và C. Kiểm tra ít nhất một triệu chứng khí sắc thuộc B, ít nhất một mục thuộc C và tổng ít nhất năm; tránh đếm trùng các biểu hiện cơ thể.
  4. Thống nhất ghi nhận hằng ngày. Theo dõi ít nhất hai chu kỳ có triệu chứng và hẹn đánh giá lại. Nếu chưa đủ dữ kiện, ghi rõ chẩn đoán đang được xem xét thay vì khẳng định chắc chắn.
  5. Rà bệnh cảnh xuyên suốt chu kỳ. Hỏi trầm cảm, lo âu, hưng cảm/hưng cảm nhẹ, thuốc và bệnh cơ thể; phối hợp tâm thần và sản phụ khoa khi phù hợp.
  6. Đánh giá an toàn độc lập với lịch chu kỳ. Ý nghĩ tự sát, tự hại hoặc suy giảm chức năng nghiêm trọng cần hỗ trợ kịp thời. Không đợi đủ hai chu kỳ mới xử trí nguy cơ hiện tại.

Các bước trên được tổng hợp cho thực hành tham vấn; không thay thế đánh giá chẩn đoán và điều trị bởi người có chuyên môn phù hợp.

Tra cứu DSM-5-TR

Nội dungTrang in, bản tiếng Anh 2022
Tiêu chuẩn đầy đủ, các ghi chú, mã và phần giải thích của mục tương ứng197–201

Bài viết diễn giải có chọn lọc nhằm giúp hiểu bệnh cảnh và tổ chức đánh giá. Các khung tóm tắt và bảng tra không thay thế toàn bộ điều kiện chẩn đoán. Khi sử dụng mã, đối chiếu hướng dẫn trong bản DSM-5-TR 2022 và hệ thống mã áp dụng tại cơ sở. Số trang ở đây là trang in, khác số trang của trình đọc PDF.

Nguồn chính: American Psychiatric Association. (2022). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (5th ed., text rev.; DSM-5-TR), Section II, “Premenstrual Dysphoric Disorder”, tr.197–201. Nội dung được tóm tắt và diễn giải có chọn lọc từ sách; hướng dẫn đánh giá là phần tổng hợp thực hành, không phải tiêu chuẩn bổ sung. Thuật ngữ được đối chiếu với Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc. Ảnh minh họa: Anete Lusina / Pexels; hình ảnh không ngụ ý người trong ảnh có chẩn đoán này.

← Quay lại nhóm 04 · Các rối loạn trầm cảm